Xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Trong hoạt động thi hành án thường có nhiều khó khăn nhất vì đây là giai đoạn người bị thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ của mình, tuy nhiên không phải lúc nào họ cũng tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình vì vậy cần phải có sự can thiệt của cơ quan thi hành án, đây là một giai đoạn khó vì vậy đòi hỏi cán bộ thi hành án phải lắm vững kiến thưc về thi hành án, đặc biệt là trình tự thủ tục thi hành án để tranh việc ra những quyết định sai phạm, nếu quyết định thi hành án mà sau phạm thì phải bồi thường theo quy định pháp luật, vậy căn cứ vào đâu để xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của cơ quan thi hành án, quy định này được thể hiện cụ thể tại Điều 6 nghị định 123/2015 được quy định cụ thể như sau.

Điều 6. Xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

1. Các trường hợp thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự theo quy định tại Điều 38 của Luật bao gồm:

a) Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra các quyết định thi hành án, quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án, quyết định thi hành án để thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án, quyết định hoãn thi hành án, quyết định tạm đình chỉ thi hành án, quyết định đình chỉ thi hành án, quyết định tiếp tục thi hành án trái pháp luật;

b) Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cố ý không ra quyết định thi hành án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự; quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án; quyết định thi hành án để thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án trong thời hạn theo quy định của pháp luật; không chủ động ra quyết định hoãn thi hành án khi việc thi hành án thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự hoặc cố ý không ra quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm quy định tại khoản 2 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự; quyết định tạm đình chỉ thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Luật Thi hành án dân sự; quyết định đình chỉ thi hành án khi việc thi hành án thuộc các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự; quyết định tiếp tục thi hành án khi căn cứ, thời hạn hoãn thi hành án theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự không còn hoặc đã nhận được một trong các quyết định quy định tại khoản 3 Điều 49 Luật Thi hành án dân sự;

c) Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có hành vi trái pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành các quyết định về thi hành án; cố ý không tổ chức thi hành các quyết định về thi hành án theo quy định của pháp luật;

d) Chấp hành viên ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án không có căn cứ pháp luật; ra quyết định quyết định cưỡng chế thi hành án trái pháp luật;

đ) Chấp hành viên cố ý không ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án khi có căn cứ áp dụng biện pháp bảo đảm trong trường hợp tự mình áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án; quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án trong trường hợp áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo yêu cầu của đương sự; quyết định cưỡng chế thi hành án khi có căn cứ áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật;

e) Chấp hành viên và những người thi hành công vụ khác có hành vi trái pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành các quyết định về thi hành án; cố ý không tổ chức thi hành các quyết định về thi hành án theo quy định của pháp luật.

2. Các trường hợp sau đây không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự quy định tại Điều 38 của Luật:

a) Trường hợp Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án để thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án đúng với quyết định đó mà gây ra thiệt hại; quyết định hoãn thi hành án theo điểm c khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự hoặc theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự; quyết định tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được thông báo của Toà án về việc đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Luật Thi hành án dân sự mà gây ra thiệt hại; quyết định đình chỉ thi hành án khi bản án, quyết định của Tòa án bị hủy một phần hoặc toàn bộ mà gây ra thiệt hại theo điểm d khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự;

b) Trường hợp Chấp hành viên ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án đúng theo yêu cầu của đương sự mà gây thiệt hại.

Trên đây là những quy định pháp luật về xác định trách nhiệm bồi thường của nhà nước. Nếu còn vướng mắc gì quý khách vui lòng liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật 19006500 để được giải đáp hoặc tham khảo bài viết tại website: luattoanquoc.com.

Bài viết tham khảo.

– Tư vấn luật dân sự

Leave a Reply