Quy định về trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh

1. Về trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh
Tại Điều 342 BLDS 2015 có quy định: Trường hợp bên được bảo lãnh không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa
vụ đó. Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh thì bên
nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm và
bồi thường thiệt hại.”
Đây là một điểm mới về bảo lãnh so với quy định trong Điều 369 Xử lý tài sản
của bên bảo lãnh BLDS 2005 như sau: Trong trường hợp đã đến hạn thực hiện
nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh, mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình
để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh.
Như vậy, với điểm mới này, pháp luật đã quy định cụ thể hơn, nhằm bảo đảm
quyền, lợi ích của bên nhận bảo lãnh khi bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ bảo lãnh, thông qua việc trao cho họ quyền được yêu cầu
bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ và buộc bên bảo lãnh phải bồi thường thiệt
hại (nếu có) do hành vi vi phạm nghĩa vụ đó gây ra. Thiệt hại là có thể là thiệt hại
thực tế do hành vi vi phạm nghĩa vụ đó gây ra, hoặc có thể là khoản lợi mà bên nhận
bảo lãnh đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm đó.
2. Về việc miễn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
Về việc miễn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh quy định tại Điều 341 BLDS 2015
có quy định hai điểm mới so với Điều 368 BLDS 2005 .
Thứ nhất tại Khoản 1 Điều 341 quy định: Trường hợp bên bảo lãnh phải thực
hiện nghĩa vụ bảo lãnh mà bên nhận bảo lãnh miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho bên
bảo lãnh thì bên được bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo
lãnh, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác. Còn tại khoản 1
Điều 368 quy định trong trường hợp như trên  thì bên được bảo lãnh vẫn phải thực

hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh, trừ trường hợp có thoả thuận hoặc pháp
luật có quy định khác…
Như vậy, với quy định mới này, có thể thấy rằng, nhà làm luật đã hướng đến
việc coi nghĩa vụ của bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh là một. Hay nói cách khác,
nghĩa vụ mà bên bảo lãnh đáng ra phải thực hiện và nghĩa vụ đương nhiên của bên
được bảo lãnh là một. Từ đó, nếu bên nhận bảo lãnh miễn việc thực hiện nghĩa vụ
cho bên bảo lãnh, cũng đồng thời với việc họ miễn luôn nghĩa vụ cho bên được bảo
lãnh.
Thứ hai, một điểm bổ sung hoàn toàn mới tại Khoản 3 Điều 341 BLDS 2015
mà BLDS 2005 không quy định đó là “Trường hợp một trong số những người nhận
bảo lãnh liên đới miễn cho bên bảo lãnh không phải thực hiện phần nghĩa vụ đối với
mình thì bên bảo lãnh vẫn phải thực hiện phần nghĩa vụ còn lại đối với những người
nhận bảo lãnh liên đới còn lại”. Quy định này được bổ sung giải quyết triệt để và
thống nhất vấn đề trong trường hợp một số những người nhận bảo lãnh miễn việc
thực hiện cho bên bảo lãnh mà tại BLDS 2005 không đề cập tới.

Leave a Reply