Mối quan hệ giữa nghĩa vụ liên đới và nghĩa vụ hoàn lại

Hiện nay luật thực định không quy định một cách cụ thể khái niệm về nghĩa vụ
hoàn lại, tuy nhiên thuật ngữ nghĩa vụ hoàn lại dùng để chỉ những nghĩa vụ phát sinh
từ một nghĩa vụ khác và theo cách hiểu chung nhất: nghĩa vụ hoàn lại được hiểu là
một quan hệ nghĩa vụ trong đó bên có quyền yêu cầu bên kia ( người có nghĩa vụ)
thanh toán lại khoản tiền hoặc lợi ích vật chất khác mà người có quyền đã thay người
có nghĩa vụ thực hiện cho người khác hoặc một bên nghĩa vụ phải hoàn trả cho bên
có quyền khoản tiền hay một lợi ích vật chất mà họ đã nhận được từ người khác trên
cơ sở quyền yêu cầu của bên có quyền. Theo cách hiểu trên, nghĩa vụ hoàn lại mang
một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất nghĩa vụ hoàn lại là một nghĩa vụ phái sinh, nghĩa vụ hoàn lại bao giờ
cũng phát sinh từ một nghĩa vụ cơ bản khác. Nó không phát sinh từ một nghĩa vụ đầu
tiên.
Thứ hai, trong nghĩa vụ hoàn lại bao giờ cũng có một người liên quan đến cả
hai quan hệ nghĩa vụ. Người đó, nếu là người thực hiện nghĩa vụ trong quan hệ trước
thì trong quan hệ nghĩa vụ hoàn lại họ là người có quyền.
Thứ ba, nếu nghĩa vụ hoàn lại là nghĩa vụ nhiều người, thì theo nguyên tắc,
nghĩa vụ đó được xác định là nghĩa vụ riêng rẽ.
Khoản 2 Điều 288 về thực hiện nghĩa vụ liên đới BLDS 2015 quy định “
Trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những
người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với
mình.” Đây chính là quy định của pháp luật rõ ràng và cụ thể nhất để xác định mối
quan hệ nghĩa nghĩa vụ liên đới và nghĩa vụ hoàn lại.
Từ những đặc điểm của nghĩa vụ hoàn lại và nghĩa vụ liên đới ta thấy: một bên
có sự liên quan trong việc liên đới thực hiện nghĩa vụ giữa những người có nghĩa vụ
và sự liên quan trong việc liên đới hưởng quyền giữa những người có quyền. Một bên
là việc có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ đó
trước đó mà mình đã thay họ thực hiện.

Như vậy dựa vào đặc điểm đặc trưng của nghĩa vụ liên đới và nghĩa vụ hoàn lại
ta có thể thấy rằng giữa hai quan hệ nghĩa vụ này có mối quan hệ qua lại, gắn bó với
nhau. Nghĩa vụ hoàn lại có thể được phát sinh từ một nghĩa vụ liên đới, đồng thời
nghĩa vụ hoàn lại phản ánh việc thực hiện nghĩa vụ liên đới tới đâu và như thế nào
trong quan hệ trước đó.
Thông thường, từ một nghĩa vụ dân sự liên đới có thể làm phát sinh nghĩa vụ
hoàn lại theo một trong hai trường hợp sau:
+ Khi một trong số những người có nghĩa vụ liên đới đã thực hiện toàn bộ
nghĩa vụ, thì người đó trở thành người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ hoàn lại, có
quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thanh toán cho mình
khoản tiền hoặc lợi ích vật chất mà người đó đã bỏ ra để thay họ thực hiện cho người
có quyền trong quan hệ nghĩa vụ dân sự liên đới trước đó.
+Khi một trong số những người có quyền liên đới đã nhận việc thực hiện toàn
bộ nghĩa vụ của người có nghĩa vụ, thì người đó trở thành người có nghĩa vụ trong
quan hệ nghĩa vụ hoàn trả. Người đã nhận việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ có nghĩa
vụ hoàn trả lại cho mỗi người có quyền liên đới các khoản lợi ích vật chất mà người
này đã thay họ để nhận từ người có nghĩa vụ trong nghĩa vụ dân sự liên đới trước
đó.
Ngoài ra theo quy định của BLDS 2015, nghĩa vụ hoàn lại còn phát sinh theo
quy định tại Điều 340 về Quyền yêu cầu của bên bảo lãnh: “Bên bảo lãnh có quyền
yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi nghĩa vụ
bảo lãnh đã thực hiện, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.” Như vậy là khi bên bảo
lãnh thực hiện xong những cam kết trước bên nhận bảo lãnh, thì quan hệ nghĩa vụ
chính cũng như việc bảo lãnh được coi là chấm dứt. Khi đó, bên bảo lãnh có quyền
yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi đã bảo
lãnh; bên bảo lãnh được hưởng thù lao nếu có thỏa thuận giữa họ và bên được bảo
lãnh hoặc pháp luật có quy định.

Leave a Reply